Luật Việc làm năm 2025 ghi nhận nhiều sửa đổi quan trọng đối với bảo hiểm thất nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động đang biến đổi mạnh mẽ và gia tăng tính bền vững của hệ thống an sinh xã hội.
Bảo hiểm thất nghiệp là trụ cột quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội hiện đại, vừa bảo vệ thu nhập cho người lao động khi mất việc làm, vừa hỗ trợ họ tái hòa nhập thị trường lao động. Luật Việc làm năm 2025 với nhiều điều chỉnh quan trọng liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp, từ mở rộng đối tượng tham gia, thiết kế lại các chế độ thụ hưởng đến điều chỉnh điều kiện và cách thức hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Những thay đổi này phản ánh sự dịch chuyển trong tư duy lập pháp từ mô hình "trợ cấp thụ động" sang "hỗ trợ chủ động", phù hợp với xu hướng quản trị thị trường lao động hiện đại. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam chịu nhiều biến động do tác động của dịch bệnh, chuyển đổi công nghệ và tái cấu trúc doanh nghiệp, số lượng người lao động có nguy cơ mất việc ngày càng gia tăng.
Vị trí của bảo hiểm thất nghiệp trong hệ thống an sinh xã hội
An sinh xã hội là sự bảo vệ của Nhà nước và xã hội đối với các thành viên trước những rủi ro, biến động về kinh tế - xã hội. Hệ thống an sinh xã hội thực hiện ba chức năng cơ bản: phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro, biến cố.
Khoản 4 Điều 4 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định bảo hiểm thất nghiệp là một bộ phận của bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, cách thiết kế quy định hiện hành thiếu thống nhất khi khái niệm bảo hiểm xã hội tại khoản 1 Điều 3 chưa ghi nhận "thất nghiệp" như một nguy cơ xã hội được bảo đảm. Sự thiếu đồng bộ này gây lúng túng trong nhận thức lý luận và có thể dẫn đến khó khăn trong áp dụng pháp luật.
Quy định pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp
Luật Việc làm năm 2025 nhấn mạnh chức năng hỗ trợ duy trì việc làm, đào tạo, tư vấn, giới thiệu việc làm. Theo đó, "bảo hiểm thất nghiệp là loại hình bảo hiểm bắt buộc do Nhà nước tổ chức mà người lao động, người sử dụng lao động tham gia để hỗ trợ duy trì việc làm, đào tạo, tư vấn, giới thiệu việc làm và bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi bị mất việc làm."
Sự thay đổi này thể hiện bước chuyển quan trọng từ chính sách an sinh mang tính "thụ động" sang mô hình "chủ động và bền vững", qua đó bảo đảm quyền lợi bảo hiểm thất nghiệp của người lao động được tiếp cận thực chất và hiệu quả hơn.
Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp
Luật Việc làm năm 2025 đã mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp, gồm người làm việc theo hợp đồng lao động từ đủ 01 tháng trở lên (kể cả hợp đồng không trọn thời gian), người làm việc theo hợp đồng làm việc, cùng các chức danh quản lý trong doanh nghiệp, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã có hưởng tiền lương.
Quy định mới này góp phần tăng cường tính bao phủ, công bằng trong bảo đảm an sinh đối với người lao động. Luật cũng bổ sung nhóm người lao động làm việc theo bất kỳ loại hợp đồng nào, nếu có trả công, tiền lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên, phù hợp với bối cảnh phát triển mạnh mẽ của kinh tế nền tảng.
Tuy nhiên, Luật tiếp tục loại trừ lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam khỏi phạm vi điều chỉnh, trong khi thiếu lý giải khoa học và cơ sở lý luận thuyết phục cho sự loại trừ này.
Các chế độ bảo hiểm thất nghiệp
Luật Việc làm năm 2025 tiếp tục duy trì 04 chế độ bảo hiểm thất nghiệp nhưng điều chỉnh về cấu trúc và phạm vi nội dung. Tư vấn, giới thiệu việc làm được xác định là chế độ độc lập và được đặt lên hàng đầu, thể hiện định hướng chủ động của chính sách.
Điều 36 Luật Việc làm năm 2025 loại bỏ quy định "miễn phí" đối với dịch vụ tư vấn, giới thiệu việc làm và chỉ xác lập một nguyên tắc chung. Việc thiếu nguyên tắc "miễn phí" có thể dẫn đến việc thương mại hóa dịch vụ công vốn mang tính bảo đảm quyền cơ bản của người lao động. Việc này tạo khoảng trống pháp lý, nguy cơ phát sinh chi phí ngoài luồng, đặc biệt tại các địa phương có hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm chưa đủ năng lực.
Chế độ hỗ trợ người lao động tham gia đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề được thiết kế thay thế và mở rộng nội hàm của chế độ "hỗ trợ học nghề" trước đây, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời và thích ứng với sự thay đổi liên tục của thị trường lao động.
Luật Việc làm năm 2025 bổ sung chế độ hỗ trợ người sử dụng lao động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động trong các trường hợp doanh nghiệp gặp khó khăn do thay đổi cơ cấu, công nghệ, lý do kinh tế; thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm hoặc buộc phải di dời.
Tuy nhiên, chính sách hiện hành còn hạn chế khi chưa mở rộng phạm vi áp dụng đối với các trường hợp tái cơ cấu lại doanh nghiệp theo Điều 43 Bộ luật Lao động năm 2019 (chia, tách, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu). Trên thực tế, các trường hợp này tuy không xuất phát từ yếu tố bất khả kháng nhưng thường xuyên làm phát sinh nguy cơ mất việc hoặc gián đoạn việc làm của người lao động.
Trợ cấp thất nghiệp: Điều kiện, mức và thời gian hưởng
Người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi: chấm dứt hợp đồng lao động/hợp đồng làm việc hợp pháp (không thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt trái pháp luật); đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ 12 tháng trong 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng hoặc đủ 12 tháng trong 36 tháng đối với hợp đồng lao động từ 01 - 12 tháng; nộp hồ sơ trong 03 tháng kể từ ngày nghỉ việc; chưa có việc làm sau 10 ngày.
Luật Việc làm năm 2025 giữ nguyên mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng đã đóng, nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng.
Một vấn đề nổi bật là sự chênh lệch đáng kể giữa tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm và tiền lương thực nhận của người lao động. Trong giai đoạn 2022 - 2023, mức tiền lương bình quân làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp chỉ đạt khoảng 5,56 triệu đồng, thấp hơn nhiều so với thu nhập thực tế.
Luật Việc làm năm 2025 giữ nguyên thời gian được hưởng trợ cấp thất nghiệp: đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng được hưởng 03 tháng trợ cấp, sau đó đóng đủ thêm 12 tháng được hưởng thêm 01 tháng nhưng tối đa không quá 12 tháng.
Mức đóng và quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp
Luật Việc làm năm 2025 điều chỉnh theo hướng chỉ quy định mức trần tối đa đóng bảo hiểm thất nghiệp, không áp đặt tỷ lệ cụ thể. Người lao động đóng tối đa bằng 1% tiền lương tháng; người sử dụng lao động đóng tối đa bằng 1% quỹ tiền lương tháng; Nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng.
Điều 43 Luật Việc làm năm 2025 loại bỏ vai trò trực tiếp của ngân sách nhà nước như một bên tham gia đóng góp, thay vào đó xác lập quỹ bảo hiểm thất nghiệp là quỹ tài chính độc lập với ngân sách. Quy định này thể hiện xu hướng phân định rạch ròi giữa tài chính an sinh xã hội và tài chính công.
Một trong những quy định mới thể hiện sự tiến bộ rõ nét là cơ chế kiểm toán định kỳ (03 năm) và kiểm toán đột xuất quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Luật đã thiết lập rõ trách nhiệm kiểm toán bởi Kiểm toán Nhà nước và yêu cầu báo cáo với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ.
Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật
Để bảo hiểm thất nghiệp thực sự phát huy vai trò là trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật theo các định hướng sau:
Thứ nhất, cần khẳng định rõ vị trí pháp lý của bảo hiểm thất nghiệp. Nếu xác định bảo hiểm thất nghiệp thực sự là một chế độ của bảo hiểm xã hội, cần sửa đổi khái niệm bảo hiểm xã hội theo hướng bao quát nguy cơ "thất nghiệp", bảo đảm tính nhất quán nội tại của hệ thống pháp luật.
Thứ hai, sớm ban hành văn bản hướng dẫn hoặc nghiên cứu thiết kế mô hình bảo hiểm thất nghiệp mang tính tự nguyện, tương tự như bảo hiểm xã hội tự nguyện, nhằm mở rộng cơ hội thụ hưởng bảo đảm thu nhập.
Thứ ba, để khắc phục khoảng trống pháp lý, cần tái khẳng định nguyên tắc cung cấp dịch vụ tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí cho người lao động. Trường hợp không quy định trực tiếp "miễn phí", cần thiết lập cơ chế pháp lý rõ ràng kiểm soát việc thu phí (nếu có), xác định phạm vi dịch vụ thu - không thu phí, mức trần, chủ thể và trách nhiệm công khai minh bạch.
Thứ tư, để các quy định về hỗ trợ người lao động tham gia đào tạo phát huy hiệu quả, cần có các giải pháp đồng bộ như: cụ thể hóa điều kiện và thủ tục thực hiện các chế độ mới trong văn bản hướng dẫn dưới luật; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thị trường lao động hiện đại.
Thứ năm, để bảo đảm tính bao quát và công bằng, cần xem xét mở rộng phạm vi áp dụng của chế độ hỗ trợ người sử dụng lao động đối với các trường hợp tái cơ cấu doanh nghiệp.
Thứ sáu, về trợ cấp thất nghiệp, cần điều chỉnh căn cứ tính mức hưởng theo hướng phản ánh sát hơn thu nhập thực tế của người lao động, thay vì chỉ dựa trên tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm. Cơ chế xác định mức hưởng nên tính đến yếu tố vùng miền và nhóm lao động, bởi chi phí sinh hoạt giữa thành thị và nông thôn có sự khác biệt đáng kể. Cần xem xét nâng tỷ lệ hưởng trợ cấp thất nghiệp (cao hơn mức 60% hiện nay) đối với một số nhóm lao động dễ bị tổn thương, như lao động nữ, lao động là người khuyết tật, lao động phi chính thức.
Thứ bảy, Điều 48 Luật Việc làm năm 2025 cần quy định rõ thẩm quyền của Chính phủ trong việc quyết định các biện pháp bảo vệ quỹ, nhằm duy trì vai trò "bảo hiểm cuối cùng" của Nhà nước trong hệ thống bảo hiểm thất nghiệp.
Kết luận
Với những thay đổi mang tính cải cách trong Luật Việc làm năm 2025, bảo hiểm thất nghiệp đang từng bước chuyển mình, từ công cụ hỗ trợ thuần túy sang giải pháp toàn diện nhằm thúc đẩy an sinh chủ động và phát triển thị trường lao động bền vững.
Việc mở rộng phạm vi bao phủ, điều chỉnh điều kiện và phương thức thụ hưởng, cũng như tăng cường các chế độ hỗ trợ gắn với việc làm thể hiện rõ định hướng mới của chính sách - lấy người lao động làm trung tâm và hướng tới nâng cao năng lực thích ứng nghề nghiệp trong dài hạn.
Tuy nhiên, hiệu quả thực thi chính sách phụ thuộc vào năng lực tổ chức thực hiện ở cấp địa phương, hệ thống cơ sở dữ liệu lao động, chất lượng dịch vụ công và mức độ tiếp cận thông tin của người lao động. Vì vậy, bên cạnh hoàn thiện khung pháp luật, cần chú trọng nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, xây dựng chính sách truyền thông chuyên sâu, hiện đại hóa hệ thống thông tin - dữ liệu.
> Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật — NCS. ThS. Trần Nguyễn Quang Hạ (Giảng viên Khoa Luật, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành) — https://danchuphapluat.vn/nang-cao-hieu-qua-thi-hanh-luat-viec-lam-nam-2025-ve-bao-hiem-that-nghiep-9330.html
