Luật Giao dịch điện tử năm 2023 với tư cách luật chuyên ngành điều chỉnh các giao dịch điện tử trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, trong khi các vấn đề giải quyết xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền đối với hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài được áp dụng trên cơ sở Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2019, 2020, 2022, 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Tuy nhiên, quy định về thỏa thuận của các bên cùng các tiêu chí xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng dựa trên yếu tố lãnh thổ hữu hình như nơi cư trú, trụ sở của bị đơn; nơi xác lập hay thực hiện hợp đồng dần mờ nhạt và kém hiệu quả trong môi trường số. Nguyên nhân bởi hợp đồng điện tử chưa có điều khoản lựa chọn luật rõ ràng, việc thực hiện diễn ra tự động ngay khi hợp đồng được giao kết và có thể trải rộng qua nhiều quốc gia mà không có mối liên hệ vật lý cụ thể[1]. Vì vậy, nghiên cứu phân tích các vấn đề pháp lý của hợp đồng điện tử trong tư pháp quốc tế, đánh giá tính khả thi của các quy định hiện hành; từ đó, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật trên cơ sở tham khảo và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của EU.
Một số vấn đề về hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài trong tư pháp quốc tế
Khoản 16 Điều 3 Luật Giao dịch điện tử năm 2023 quy định: “hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu”. Cách tiếp cận này cho thấy, nhà làm luật không xây dựng một loại hợp đồng mới về nội dung mà chỉ ghi nhận một phương thức xác lập hợp đồng trong môi trường điện tử. Theo đó, Luật Giao dịch điện tử năm 2023 chủ yếu điều chỉnh phương thức thực hiện giao dịch bằng phương tiện điện tử, các vấn đề liên quan đến nội dung cũng như thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng vẫn thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Đối chiếu với hợp đồng truyền thống cho thấy, hợp đồng điện tử có những đặc trưng pháp lý riêng biệt. Cụ thể:
Thứ nhất, về số lượng chủ thể tham gia. Nếu hợp đồng truyền thống chỉ cần sự tham gia của hai bên để giao kết hợp đồng thì đối với hợp đồng điện tử, có thể phát sinh vai trò của chủ thể trung gian như nhà cung cấp dịch vụ mạng, tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử[2].
Thứ hai, về hình thức giao kết. Trong hợp đồng điện tử, hoạt động giao kết chủ yếu được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu. Trong khi, đối với hợp đồng truyền thống, hình thức giao dịch có thể bằng lời nói, văn bản, hành vi cụ thể hoặc hình thức khác do các bên thỏa thuận. Mặc dù, khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản, song, việc sử dụng chữ ký điện tử trong hợp đồng điện tử tạo nên khác biệt đáng kể so với chữ ký tay trong hợp đồng truyền thống.
Quan điểm ILED
Doanh nghiệp Việt Nam ký hợp đồng điện tử với đối tác nước ngoài cần đặc biệt lưu ý điều khoản về luật áp dụng và thẩm quyền giải quyết tranh chấp. ILED cung cấp dịch vụ rà soát hợp đồng điện tử xuyên biên giới với chuyên gia tư pháp quốc tế và có thể hỗ trợ soạn thảo điều khoản chọn luật phù hợp với từng đối tác cụ thể.
